Kiến trúc sư thường đặt ra những tiêu chuẩn cực cao và tự đánh giá sự thể hiện của bản thân dựa trên những thang điểm không tưởng. Điều này thường phần lớn là vì cái “tôi” của kiến trúc sư thường rất lớn và họ tin rằng gia đình, vợ chồng hay sếp của họ mong muốn họ đạt đến sự hoàn hảo nhất định. Đôi khi chính những quan điểm này vô tình bị áp đặt lên mọi người xung quanh, tạo ra những mong đợi không thực tế khiến họ trở nên gay gắt và không hài lòng.

Theo một nghiên cứu gần đây được phát hành bởi Trung tâm Kiểm soát và Phòng tránh Bệnh tật – một trong những viện nghiên cứu lớn nhất tại Hoa Kỳ chuyên đánh giá tỷ lệ tử vong dựa trên nghề nghiệp, Kiến trúc sư và Kỹ sư là hai ngành nghề đứng ở vị trí thứ 05 trong bảng xếp hạng 20 ngành nghề có nguy cơ tự tử cao với 32/100,000 trường hợp tự sát. Luật sư đứng ở vị trí thứ 11 theo sau là bác sĩ và nha sĩ trong khi những nhà truyền đạo và nhân viên xã hội đứng ở vị trí thứ 16. Cảnh sát, lính cứu hoả và quản giáo là những nghề có tỷ lệ tự tử ở nữ giới cao nhất, đứng thứ hai là nghề luật

Wendy McIntosh, một trong những tác giả của bài báo cáo và cũng là một nhà nghiên cứu sức khoẻ tại CDC cho biết mục tiêu chính của dự án là đánh giá tỉ lệ tự tử từ đó đưa ra những thông điệp và chương trình hỗ trợ nhà tuyển dụng đưa ra những chiến lược đúng đắn đảm bảo an toàn cho nhân viên. Các chiến lược bao gồm tăng cường giám sát và hỗ trợ, chương trình về nơi làm việc, buổi phổ cập kỹ năng và kiến thức phòng chống căng thẳng cũng như các công cụ hỗ trợ điều tiết tâm lý

Danh sách bao gồm:
1) Nông dân, thợ cưa gỗ, ngư dân và những ngành nông nghiệp có liên quan (85/100.000)
2) Thợ điêu khắc, thợ mỏ, thợ điện và giao dịch xây dựng (53)
3) Thợ cơ khí và những nhân viên lắp đặt sửa chữa bảo trì (48)
4) Công nhân sản xuất và công nhân nhà máy (35)
5) Kiến trúc sư và Kỹ sư (32)
6) Cảnh sát, lính cứu hoả, quản giáo và những dịch vụ bảo vệ (31)
7) Hoạ sĩ, nhà thiết kế, diễn viên giải trí, vận động viên và nhân viên truyền thông (24)
8) Lập trình máy tính, nhà toán học và nhân viên thống kê (23)
9) Công nhân vận chuyển (22)
10) Giám đốc điều hành và quản lý, nhân viên quan hệ công chúng và nhân viên quảng cáo (20)
11) Luật sự và những nhân viên lập pháp (19)
12) Bác sĩ, Nha sĩ và các nghề nghiệp liên quan đến y tế (19)
13) Khoa học gia và nghiên cứu sinh (17)
14) Kế toán, nhân viên kinh doanh và tài chính (16)
15) Y tá, nhân viên chăm sóc sức khoẻ (15)
16) Giới tăng lữ, nhân viên xã hội (14)
17) Nhân viên bất động sản, sale, nhân viên bán điện thoại (13)
18) Nhân viên dọn vệ sinh và bảo trình công trình (13)
19) Đầu bếp và nhân viên làm việc trong ngành thực phẩm (13)
20) Nhân viên chăm sóc sức khoẻ, thợ cắt tóc, huấn luyện động vật, dịch vụ chăm sóc cá nhân (8)

Do sự giới hạn về dữ liệu, nghiên cứu chỉ có thể đánh giá tỷ lệ tự tử ở mức độ phổ quát. Các hạng mục có thể tách theo nhóm có cùng tính chất hoặc có thể không liên quan đến nhau vì dựa trên phân loại của liên bang. Tuy nhiên, tính thuyết phục của báo cáo có thể bị chi phối vì nó chỉ được thực hiện trên tổng cộng 17 bang, trên 12,300/40,000 trường hợp tử vong tại Hoa Kỳ trong năm 2012. Ngoài ra hai yếu tố: chủ nghĩa hoàn hảo và thích tự làm đau bản thân là hai yếu tố dễ gây nguy hiểm nhất

Duy Dương

[Theo Arch2o]

SHARE